Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận
07.02.2010 05:19
Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là
láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn
như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị
Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.
LTS: Thế
giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có
tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị
Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.
Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung
Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng
của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản
biện bài viết này.
Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc,
Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các
thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là
lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.
Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại
vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam
không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử,
tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt
Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc
gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong
một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

Trung Quốc trỗi dậy. Ảnh: Reuters.
Trung Quốc không phải là "thiên triều"
Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường
tuyên bố "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", nhưng thắng họ rồi thì lại đều
đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin "thiên triều"
phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.
Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy.
Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử
sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi
Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu:"Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn".
Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và... chấp nhận vĩnh viễn.
Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị
nguyền rủa, còn "nộp cống xưng thần" là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái
Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14),
là vị Shogun (tức "tướng quân", dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong
lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của
ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó
rửa của dân tộc.
Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.
Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng.
Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho
cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị
một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.
Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn
hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một "khuôn mẫu đỉnh cao",
do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng
về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.
Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.
Trung Quốc không phải là khuôn mẫu
Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và
học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung
Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những
lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.
Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt
Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ.
Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa
dân tộc du nhập về và "đặt chình ình" vào giữa cơ thể dân tộc.
Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất
là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua
Trung Quốc nghĩa là... không khác Trung Quốc.
Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng
tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ
vượt ra ngoài "chiếc hộp Trung Quốc". Tổ chức khoa cử như Trung Quốc.
Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc.
Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết... Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng
của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào
khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.
Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến
thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ "Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự
thư". Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà
mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam),
nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang... ở nhà.
Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung
Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo
chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những
ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.
Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để
đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung
Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn
quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên,
"Cổ sự ký", họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết
một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc... không đọc được.
Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi
Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không
có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.
Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách
nhìn và cái nhìn, "chữ thánh hiền" là chữ Trung Quốc, "người thánh
hiền" là người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.
Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.
Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy
Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được "thánh
hiền Trung Quốc" nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ
cần sống sao cho đúng.
Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những
người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể
chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng
một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.

Ảnh: 2m.au.com
Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện
luận mà dám đặt vấn đề một cách "vô lễ" như thế này với thánh hiền
Trung Quốc? Sách "Sentetsu Sodan" ("Tiên triết tùng đàm") của Nhật kể
về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm
Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: "Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm
chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công
nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?". Nghe câu hỏi
là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải... chém đầu
Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.
Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu
cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải "đặt
vấn đề" về mặt văn hóa với Trung Quốc.
Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt
để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của
Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính
cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.
Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên
bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì
của Nhật Bản nhưng của thời xưa.
Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên
bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có
sáng tạo được cái "triết thuyết mới" ấy hay không là chuyện khác.
Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất
nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao
văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị
gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong
thực tế để dạy lại ông thầy của mình.
Các học phái "Kokugaku", "Rangaku", "Mito"... đã phủ nhận tận gốc vị
trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi
tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết "thiên
mệnh", những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải
phẫu người...
Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả
ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu
biết mới của riêng mình.
Lời cuối cho một khởi đầu
Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm
thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc
tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông
quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như
là "khuôn mẫu đỉnh cao".
Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu
thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại
trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn
bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa
Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.
Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.
Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó
họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. "Học tập Phương Tây,
Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây" - đó là tinh thần Nhật Bản
suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực,
kể cả văn chương nghệ thuật.
Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ
lộng ngôn. Bởi "Phương Tây" là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng.
Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì
cũng như... Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.
Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể
không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định
vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị
chính nó trước thế giới như thế ấy.
Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở
vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã
nhận thấy mình là kẻ yếu.
Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn
còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao
nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh "gục bên súng mũ bỏ
quên đời", không xứng đáng tồn tại dưới ánh mặt trời với tư cách là một
phần của nhân loại.
NV (Theo Vietnamnet) |